Thủ tục chia tài sản nhà đất sau khi ly hôn thế nào?
Thủ tục chia tài sản nhà đất sau khi ly hôn thế nào?
Thủ tục chia tài sản nhà đất sau khi ly hôn thế nào?
Hai vợ chồng đã thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung và nợ chung nhưng chưa nói rõ việc thỏa thuận về tài sản này do hai vợ chồng tự thỏa thuận với nhau hay thỏa thuận tại Tòa án trong quá trình giải quyết ly hôn và đã được Tòa án ghi nhận vào quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Do đó, sẽ có hai trường hợp như sau:
Trường hợp thứ nhất, hai vợ chồng có yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, đã được Tòa án ghi nhận trong quyết định công nhận thuận tình ly hôn.
Tại Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự như sau:
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Như vậy, quyết định công nhận thuận tình ly hôn, trong đó có nội dung giải quyết về tài sản chung cũng như nợ chung của hai vợ chồng đã có hiệu lực thi hành ngay kể từ thời điểm Tòa án ban hành.
Điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thẩm phán trả lời đơn khởi kiện trong trường hợp: “Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại”.
Việc khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản sau ly hôn chỉ được thực hiện khi tại thời điểm ly hôn tài sản này chưa được giải quyết. Đối với trường hợp trên, tài sản chung của vợ chồng đã được Tòa án giải quyết khi ly hôn nên sẽ thuộc trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực. Vì vậy, không thể khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn với chính các tài sản này. Đối với việc người vợ không tự nguyện thi hành quyết định của Tòa án, người chồng có thể làm thủ tục yêu cầu thi hành án để cơ quan thi hành án dân sự giải quyết việc thi hành án, trường hợp người vợ vẫn không hợp tác thì sẽ bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp thứ hai, việc thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng do hai vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong quá trình yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.
Theo đó, vì tài sản này chưa yêu cầu Tòa án giải quyết nên đến nay, người chồng hoàn toàn có quyền nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung sau ly hôn theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
- Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
- Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
- Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
Đối chiếu quy định trên, hai vợ chồng đang tranh chấp về tài sản sau ly hôn, tài sản này là bất động sản nên sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi có bất động sản đó. Vì vậy, người chồng phải gửi đơn khởi kiện đến Tòa án cấp huyện nơi có thửa đất để được thụ lý và giải quyết.
Tranh chấp xác định tài sản riêng của vợ hoặc chồng
Đối với những tài sản mà một bên cho rằng đó là tài sản riêng của bên nào thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Như vậy đối với những tranh chấp trong đó có việc xác định tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì vợ hoặc chồng cần phải đưa các chứng cứ chứng minh rằng tài sản đó thuộc sở hữu riêng hợp pháp của mình, nếu không chứng minh được thì đương nhiên đó là tài sản chung và chia theo nguyên tắc chung.
Tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng
Tranh chấp tài sản chung sau ly hôn gồm có:
– Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung, tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Điều 40. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
– Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn, trừ các tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc tài sản phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản vợ, chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Tranh chấp tài sản chung sau ly hôn của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố khác như:
– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.
– Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Việc tranh chấp tài sản sau ly hôn của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Tranh chấp về việc xác định nghĩa vụ tài sản
Đối với các cặp vợ, chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận, nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản được xác định dựa vào sự thỏa thuận của hai bên thể hiện trong văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng. Chỉ trong trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận về nghĩa vụ tài sản hoặc thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng dẫn đến không thực hiện được trên thực tế thì khi đó nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản lại được thực hiện theo các quy định tương ứng trong chế độ tài sản theo luật định.
Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn sẽ tồn tại những loại tranh chấp trên. Tuy nhiên, trên thực tế, đa phần đều là những tranh chấp chia tài sản là bất động sản sau khi ly hôn.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản chung là bất động sản sau ly hôn
Trường hợp nơi có bất động sản khác với nơi cư trú của bị đơn
Căn cứ theo quy định tại Mục 7 Phần III Công văn 212/TANDTC-PC năm 2019 như sau:
...
7. Trường hợp vụ án tranh chấp chia tài sản là bất động sản sau khi ly hôn mà nơi cư trú của bị đơn và nơi có bất động sản tranh chấp khác nhau thì Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này”.
Trường hợp này, quan hệ hôn nhân chấm dứt do vợ chồng đã ly hôn, nhưng tranh chấp tài sản sau ly hôn vẫn là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên căn cứ các quy định nêu trên thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết.
...
Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao xác định tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Và theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
...
Đồng thời, tại Khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP cũng có quy định về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp:
Điều 9. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp
1. Vụ án về hôn nhân và gia đình có tranh chấp về bất động sản mà nơi cư trú, làm việc của bị đơn, nguyên đơn quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và nơi có bất động sản đang tranh chấp khác nhau thì thẩm quyền của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Như vậy, tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn là bất động sản được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Do đó, trong trường hợp nơi cư trú của bị đơn và nơi có bất động sản khác nhau thì Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn
Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
...
Như vậy, trong trường hợp tranh chấp chia tài sản chung là bất động sản sau ly hôn mà không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể lựa chọn Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng hoặc Toà án nơi bị đơn có tài sản (trong trường hợp có tài sản chung là bất động sản thì có thể lựa chọn Toà án nơi có bất động sản đó) để giải quyết.
LS TRẦN MINH HÙNG
